HƯỚNG DẪN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỐI CAO VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN LÃI,
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TS. Lê Thị Giang
* Tóm tắt: Lãi và lãi suất là một trong những vấn đề phức tạp và thường xuyên xảy ra tranh chấp trong hợp đồng vay tài sản. Nhằm thống nhất cách giải quyết của tòa án, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2019) hướng dẫn các nội dung liên quan đến lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản. Bài viết phân tích và bình luận các quy định này liên quan đến hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng (sau đây gọi chung là “hợp đồng vay tài sản”).
* Từ khóa: hợp đồng vay tài sản; lãi, lãi suất; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP.
1. Áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản
Tính đến thời điểm hiện nay, nước ta đã có ba Bộ luật dân sự được ban hành gồm Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, cần xác định việc áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản theo văn bản pháp luật của từng thời kỳ. Điều này được quy định cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP như sau:
1.1. Hợp đồng vay tài sản được xác lập trước ngày 01/01//2017
Đối với các hợp đồng vay tài sản được xác lập trước ngày 01/01//2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực) thì vấn đề áp dụng luật để xác định lãi, lãi suất phụ thuộc vào việc hợp đồng vay đã được thực hiện, chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hợp đồng được xác lập trước ngày 01/01/2017 và được thực hiện xong trước ngày 01/01/2017
Hợp đồng vay được xác lập trước ngày 01/01/2017 và được thực hiện xong trước ngày 01/01/2017 mà có tranh chấp thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết. Theo đó, khoản 4 và khoản 5 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về vấn đề trả lãi và lãi suất đối với trường hợp vay không có lãi và trường hợp vay có lãi như sau:
(i) Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.
(ii) Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
Ví dụ: Ngày 2/1/2013, ông T ký hợp đồng cho bà M vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm, lãi suất thỏa thuận là 15%/năm; hợp đồng có hiệu lực và bà M đã trả xong nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 02/03/2018, bà M khởi kiện yêu cầu ông T trả lại tiền lãi do mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm). Trường hợp này, Tòa án phải áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi suất, lãi suất vượt quá.
Thứ hai, hợp đồng vay được ký kết trước ngày 01/01/2017 nhưng chưa được thực hiện
Hợp đồng vay được ký kết trước ngày 01/01/2017 nhưng chưa được thực hiện thì được giải quyết theo hai trường hợp sau đây:
Một là, nếu lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết. Hợp đồng vay tài sản có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(i) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tức là mức lãi suất do các bên thỏa thuận không vượt quá 20%/năm. Ví dụ: Ngày 2/3/2015, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 15%/năm. Mức lãi suất 15%/năm không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên thỏa thuận này phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
(ii) Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định. So với Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005, lần đầu tiên trong Bộ luật dân sự năm 2015 chính thức ghi nhận về vấn đề “lãi trên nợ lãi”. Cụ thể, “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” (khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015). Do đó, nếu các bên xác lập hợp đồng vay tài sản trước ngày 01/01/2017 mà thỏa thuận về vấn đề trả lãi đối với tiền lãi chậm trả thì Bộ luật dân sự năm 2015 sẽ được áp dụng để giải quyết. Ví dụ: Ngày 03/05/2014, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 500.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 19%/năm, lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất là 0,5%/năm. Thỏa thuận lãi trên nợ lãi là nội dung không được Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 nhưng được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nên thỏa thuận lãi trên nợ lãi là phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
(iii) Lãi, lãi suất được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác. Khác với trường hợp trên là Bộ luật dân sự 1995 và 2005 không quy định nhưng Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định thì trường hợp này là các bộ luật đều quy định nhưng quy định khác nhau. Nên nếu hợp đồng vay được xác lập trước ngày 01/01/2017 nhưng quy định về lãi, lãi suất phù hợp với quy định Bộ luật dân sự năm 2015 thì áp dụng Bộ luật này để giải quyết.
Hai là, nếu lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung về lãi, lãi suất phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và để áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ ba, hợp đồng vay được xác lập trước ngày 01/01/2017 và đang được thực hiện
Hợp đồng vay được xác lập trước ngày 01/01/2017 và đang được thực hiện thì vấn đề xác định lãi, lãi suất như nhau:
(i) Hợp đồng vay đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
(ii) Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:
– Đối với khoảng thời gian trước ngày 01/01/2006 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995.
– Đối với khoảng thời gian từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.
– Đối với khoảng thời gian từ ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nhằm giải thích rõ ràng cho quy định này, Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP đã đưa ra một ví dụ minh họa cụ thể như sau: Ngày 01-01-2003, ông A cho bà B vay 100.000.000 đồng (hợp đồng vay không kỳ hạn), lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Ngày 01-01-2018, ông A khởi kiện yêu cầu bà B trả gốc và lãi theo hợp đồng. Trường hợp này:
– Từ ngày 01-01-2003 đến trước ngày 01-01-2006, Tòa án áp dụng Điều 473 của Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để xác định lãi, lãi suất;
– Từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất;
– Từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
1.2. Hợp đồng vay tài sản được xác lập kể từ ngày 01/01/2017
Hợp đồng vay tài sản là một trong những hợp đồng có sự biến động nhanh chóng theo sự phát triển của kinh tế thị trường, đặc biệt là vấn đề liên quan đến lãi suất. Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 “đã thể hiện sự lỗi thời và bộc lộ những bất cập rất lớn, gây khó khăn cho quá trình áp dụng ngoài thực tiễn…Như quy định “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” (Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005). Cơ quan soạn thảo Bộ luật dân sự sửa đổi cho rằng, “đây là quy định cứng nhắc, không thực tế và không phản ánh đúng quy luật cung – cầu của thị trường…Bên cạnh đó, quy định về cách xác định mức lãi suất phạt quá hạn cũng chưa rõ ràng…Từ phân tích trên Bộ Tư pháp đánh giá, quy định về lãi suất trong BLDS hiện hành đã thể hiện sự lỗi thời và bộc lộ những bất cập rất lớn, gây khó khăn cho quá trình áp dụng ngoài thực tiễn, chưa phát huy được vai trò là đạo luật chung điều chỉnh các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, trong đó có các quy định liên quan đến lãi suất”. Đây cũng chính là căn cứ pháp lý cho sự sửa đổi, bổ sung quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản. Bộ luật dân sự năm 2015 được thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Do đó, các hợp đồng vay tài sản được xác lập kể từ ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
2. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản
2.1. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995
Hợp đồng vay tài sản xác lập trước ngày 01/01/2006 thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
Một là, đối với hợp đồng vay không có lãi
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn. Theo đó, công thức tính được cụ thể hóa như sau:
| Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc). |
Hai là, đối với hợp đồng vay tài sản có lãi
Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
(i) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian vay chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác định rõ lãi suất thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ. Theo đó, công thức tính được cụ thể hóa như sau:
| Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (Nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận) hoặc (lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi); |
(ii) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả. Theo đó, công thức tính được cụ thể hóa như sau:
| Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả= (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc); |
Đối với các hợp đồng vay tài sản xác lập trước ngày 01/01/2006 thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 thì khi xác định lãi, lãi suất theo Tòa án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
2.2. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005
Hợp đồng vay tài sản xác lập trước ngày 01-01-2017 thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
Một là, đối với hợp đồng vay không có lãi
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn. Công thức tính được xác định như sau:
| Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc). |
Hai là, đối với hợp đồng vay có lãi
Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
(i) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian vay chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác định rõ lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ. Công thức tính được xác định như sau:
| Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (Nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc) |
(ii) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
| Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả= (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc). |
Cũng tương tự như trường hợp các áp dụng quy định Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản, khi xác định lãi, lãi suất theo Bộ luật dân sự năm 2005, Tòa án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
2.3. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015
Hợp đồng vay tài sản xác lập kể từ ngày 01/01/2017 hoặc xác lập trước ngày 01/01/2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
* Đối với hợp đồng vay không có lãi
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
| Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x 10% x (thời gian chậm trả nợ gốc). |
* Đối với hợp đồng vay có lãi
Đối với hợp đồng vay có lãi thì bên cạnh việc trả tiền gốc đầy đủ, bên vay còn phải trả tiền lãi theo đúng thỏa thuận với bên cho vay. Đối với các hợp đồng tín dụng (vay tiền tại ngân hàng) thì khách hàng vay luôn phải trả tiền lãi cho ngân hàng.
Khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005 quy định về vấn đề tính lãi quá hạn trong hợp đồng vay có lãi như sau: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Đây là quy định bộc lộ nhiều điểm bất cập, tranh cãi trong quá trình áp dụng, đặc biệt liên quan đến cách tính lãi quá hạn. Có quan điểm cho rằng, số tiền để tính lãi quá hạn chỉ là số tiền gốc chậm trả; quan điểm khác lại lập luận, số tiền để tính lãi quá hạn bao gồm cả tiền gốc chậm trả và tiền lãi trong hạn chưa trả. Bên cạnh đó, liên quan đến lãi suất để tính lãi quá hạn cũng có nhiều quan điểm trái chiều: có quan điểm cho rằng, lãi suất để tính lãi quá hạn được xác định theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố; tuy vậy, quan điểm này gặp phải nhiều ý kiến phản đối với lý do vay quá hạn là hành vi vi phạm hợp đồng (vi phạm thỏa thuận về thời hạn trả nợ) nhưng lại được hưởng mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất trong hạn. Có người thì lập luận mức lãi suất vay quá hạn được xác định bằng 150% lãi suất vay trong hạn vì theo quy định tại Điều 11 khoản 2 quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN: “Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”. Tuy vậy, nếu áp dụng quy định này thì có nhiều trường hợp các bên vi phạm quy định tại Điều 476 BLDS năm 2005, vì quy định này khống chế mức lãi suất các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Những điểm quy định chưa triệt để, rõ ràng trong khoản 5 Điều 474 đã gây ra cách nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan, cá nhân trong việc tính lãi khiến cho việc áp dụng quy định này trên thực tế còn chưa thống nhất, không đảm bảo được công bằng giữa các chủ thể trong xã hội.
Xuất phát từ những bất cập về tính lãi trong hợp đồng vay có lãi được quy định tại BLDS năm 2015; BLDS năm 2015 đã có sửa đổi mới phù hợp liên quan đến vấn đề này. Theo quy định tại khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015, trường hợp khi đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
(i) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ. Công thức tính được xác định như sau:
| Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (Nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc). |
Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
| Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = (Nợ lãi chưa trả) x 10% x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc). |
(ii) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
| Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm trả nợ gốc). |
3. Xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả trong hợp đồng vay tài sản
Thời điểm trả nợ là một trong những yếu tố quan trọng cần xác định trong hợp đồng vay tài sản. Thời điểm trả nợ được xác định theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng vay tài sản. Thời điểm trả nợ có thể được xác định theo đơn vị thời gian cụ thể như ngày, quý, tháng hoặc xác định theo một sự kiện do các bên thống nhất. Trường hợp các bên không xác định thời gian trả nợ trong hợp đồng vay tài sản thì theo nguyên tắc chung, bên vay và bên cho vay đều có quyền trả hoặc đòi bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho nhau biết trước một khoảng thời gian hợp lý. Việc xác định thời điểm trả nợ có ý nghĩa quan trọng như:
(i) Là căn cứ xác định lãi suất trong hợp đồng vay tài sản. Theo Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị quyết số: 01/2019/NQ – HĐTP thì lãi suất trong hợp đồng vay được ký kết qua các thời ký khác nhau đều được xác định tại thời điểm trả nợ như: “Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ…” (Điều 3); “Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ …” (Điều 4); “Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả …” (Điều 5).
(ii) Thời điểm trả nợ là căn cứ xác định bên vay đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng thời hạn hay quá hạn. Trường hợp bên vay trả nợ quá hạn thì thời điểm trả nợ là căn cứ tính thời gian chậm trả tiền vay. Thời gian chậm trả được xác định như sau:
– Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo;
– Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
– Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc chưa trả bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên có tranh chấp và vụ việc được giải quyết tại tòa án thì thời điểm trả nợ hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết số: 01/2019/NQ – HĐTP là thời điểm xét xử sơ thẩm. Theo đó, thời điểm xét xử sơ thẩm là ngày Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm lại.
4. Xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định
Trước khi có Nghị quyết số: 01/2019 thì một trong những vấn đề gây ra nhiều tranh cãi đó là liên quan đến việc xử lý số tiền lãi trả thừa do các bên thỏa thuận lãi suất vượt quá mức lãi suất trần do luật quy định. Nhằm làm rõ hơn cho tranh cãi này, tác giả đưa ra một ví dụ cụ thể sau đây:
Ví dụ: A cho B vay 3 tỷ đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận 3%/tháng. Thời gian vay là 2 năm. Các bên thỏa thuận trả cả gốc và lãi khi hết thời hạn vay. Đến hạn trả nợ, B đã trả được đầy đủ số tiền lãi theo thỏa thuận nhưng chưa trả được nợ gốc, nợ gốc bị quá hạn 8 tháng. Xác định số tiền B còn phải trả cho A.
Cách thức giải quyết:
– Tiền lãi B đã trả cho A: 3.000.000.000 x 3% x 24 = 2.160.000.000 đồng
– Tiền lãi B phải trả theo luật: 3.000.000.000 x 20% x 2 = 1.200.000.000 đồng
– Số tiền lãi B đã trả thừa: 2.160.000.000 – 1.200.000.000 = 960.000.000 đồng
* Quan điểm giải quyết thứ nhất: số tiền lãi trả thừa được trừ ngay vào tiền gốc
– Tiền gốc còn lại là: 3.000.000.000- 960.000.000 = 2.040.000.000 đồng
– Số lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả là: 2.040.000.000 x 150% x 20% x 8/12 = 408.000.000 đồng
– Số tiền B còn phải trả A là: 2.040.000.000 + 408.000.000 = 2.448.000.000 đồng.
* Quan điểm giải quyết thứ hai: số tiền lãi trả thừa được trừ vào tổng phải trả cuối cùng tại thời điểm giải quyết vụ việc.
– Số lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả là: 3.000.000.000 x 150% x 20% x 8/12 = 600.000.000 đồng
– Số tiền B còn phải trả A là: 3.000.000.000 + 600.000.000 -960.000.000 = 2.640.000.000 đồng.
Từ ví dụ dẫn chứng ở trên có thể thấy, cách thức giải quyết tiền lãi trả thừa trong mỗi quan điểm khác nhau dẫn tới số tiền phải trả của người vay phải trả theo mỗi cách tính là không thống nhất và có sự chênh lệch khá lớn (như trong ví dụ trên, theo quan điểm giải quyết thứ nhất, bên vay trả ít hơn so với cách thức giải quyết thứ hai là 192.000.000 đồng).
Cách hiểu chưa thống nhất giữa các quan điểm trên được chấm dứt bởi việc ban hành Nghị quyết số: 01/2019/NQ – HĐTP. Theo đó, Điều 9 của Nghị quyết này quy định vấn đề này như sau: “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay”. Theo tác giả, cách thức quy định này là phù hợp và công bằng đối với cả bên cho vay và bên vay tài sản./.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ luật dân sự năm 1995;
2. Bộ luật dân sự năm 2005;
3. Bộ luật dân sự năm 2015;
4. Nghị quyết số: 01/ NQ – HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
5. “Quy định về lãi suất đã lỗi thời”, đăng tải trên:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=2236.

Để lại một phản hồi